Dẫn độ là gì? Trường hợp nào được dẫn độ?

Dẫn độ là gì? Hiệp định dẫn độ là gì, trường hợp nào được dẫn độ? Đây là những khái niệm khá mới mẻ với nhiều người. Mời các độc giả bài viết dưới đây để có câu đáp nhé.

Dẫn độ là gì

Dẫn độ là gì?

Điều 32 Luật hỗ trợ tư pháp Việt Nam 2007 quy định:

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên bờ cõi nước mình để nước được chuyển giao truy cứu nghĩa vụ hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.

Trường hợp nào được dẫn độ

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì những trường hợp sau bị ứng dụng dẫn độ:

– Người có thể bị dẫn độ là người có hành vi phạm tội mà Bộ luật hình sự Việt Nam và luật pháp hình sự của quốc gia yêu cầu quy định hình phạt tù có thời hạn từ một năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị Tòa án của quốc gia đó đề nghị xử phạt tù mà kì hạn chấp hành hình phạt tù còn lại chí ít sáu tháng.

– Hành vi phạm tội của người phạm tội được quy định như trường hợp ở trên, không nhất định phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh phạm tội, các nguyên tố cấu thành tù hãm không một mực phải giống nhau theo quy định của luật pháp Việt Nam và luật pháp của nước đề nghị.

– Trường hợp hành vi phạm tội của người phạm tội giống như trường hợp trước hết và xảy ra ngoài bờ cõi của nước yêu cầu thì việc dẫn độ người phạm tội có thể được thực hiện nếu theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hành vi đó là hành vi phạm tội.

– Người phạm tội bị dẫn độ về Việt Nam không bị truy cứu bổn phận hình sự hoặc dẫn độ cho nước thứ ba về hành vi mà người đó đã thực hành ở nước ngoài trước khi bị dẫn độ về Việt Nam nhưng không đủ nhân tố, cơ sở để cấu thành tù nhân theo quy định của luật pháp Việt Nam và không được nêu trong yêu cầu dẫn độ của Việt Nam hoặc của nước thứ ba.

– Trường hợp Việt Nam là nhà nước được yêu cầu dẫn độ thì việc dẫn độ chỉ được thực hành khi quốc gia đề nghị dẫn độ cam kết không truy cứu nghĩa vụ hình sự với người bị dẫn độ về hành vi phạm tội khác ngoài hành vi phạm tội đã được nêu trong yêu cầu dẫn độ, không dẫn độ người đó cho nước thứ ba, trừ đối với trường hợp được sự đồng ý, chấp nhận bằng văn bản của Việt Nam.

Những trường hợp bị khước từ dẫn độ tù đọng

Theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có nghĩa vụ coi xét để truy cứu nghĩa vụ hình sự hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ khước dẫn độ.

Điều 499, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, xử lý đề nghị truy cứu bổn phận hình sự đối với công dân Việt Nam bị khước từ dẫn độ:

1. Trong hạn vận 10 ngày kể từ ngày ra quyết định từ chối dẫn độ công dân Việt Nam theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Tòa án đã ra quyết định khước từ dẫn độ chuyển hồ sơ và các tài liệu kèm theo của nước ngoài đến Viện kiểm sát quần chúng tối cao để coi xét việc truy cứu nghĩa vụ hình sự.

2. Viện kiểm sát dân chúng tối cao coi xét, xử lý đề nghị của nước ngoài về truy cứu nghĩa vụ hình sự công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ theo quy định của luật.

3. Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người bị yêu cầu truy cứu bổn phận hình sự được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.

4. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp, bổ sung bằng cớ, tài liệu, đồ vật để bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ, đúng luật pháp.

Điều kiện cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ khước dẫn độ

Bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ có thể được thi hành tại Việt Nam khi có đủ các điều kiện:

1. Có văn bản yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ khước dẫn độ;

2. Hành vi phạm tội mà công dân Việt Nam bị kết án ở nước ngoài cũng cấu thành tù đọng theo quy định của Bộ luật hình sự nước Cộng hòa tầng lớp chủ nghĩa Việt Nam;

3. Bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam đã có hiệu lực luật pháp và không còn thủ tục tố tụng nào đối với người đó.

Các nguyên tắc pháp lý về dẫn độ

Dẫn độ tù túng trước nhất phải tuân thủ theo nguyên tắc của luật hỗ trợ tư pháp

Điều 4 Luật hỗ trợ tư pháp Việt Nam 2007 quy định 2 nguyên tắc sau:

1. hỗ trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, vẹn toàn bờ cõi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đồng đẳng và các bên cùng có lợi, hạp với Hiến pháp, luật pháp của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về hỗ trợ tư pháp thì hoạt động hỗ trợ tư pháp được thực hành trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái luật pháp Việt Nam, hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.

ngoại giả, dẫn độ người phạm tội còn phải tuân các nguyên tắc sau:

+ Nguyên tắc có đi có lại:

Nội dung của nguyên tắc này ghi nhận quốc gia được đề nghị dẫn độ chỉ thực hành dẫn độ theo yêu cầu nếu nhân được bảo đảm từ phía nhà nước yêu cầu dẫn độ rằng trong trường hợp rưa rứa, quốc gia này vững chắc sẽ thực hiện dẫn độ tù hãm cho quốc gia đối tác hữu quan. Đây là được ghi nhân trong Luật nhà nước cùa một số nước, tức luật pháp các nước này đề nghị phải tuân nguyên tắc có đi có lại trong việc thực hiên dẫn độ tù túng. duyên cớ cơ bản cùa việc xuất hiên nguyên tắc này là sự cần thiết phải coi trọng quyền đồng đẳng giữa các nhà nước, quý trọng chủ quyền của các quốc gia song song không được cản trở quốc gia trong việc tình nguyện hạn chế chủ quyền của mình và thực hành dẫn độ tội phạm trong trường hợp không có các điều kiện loại bỏ việc dẫn độ này. Trong trường hợp ngược lại, nhà nước có thể dựa trên cơ sở giảng giải của mình về chủ quyền, cho phép tầy hình sự ngụ trên cương vực nước mình.

Đây là nguyên tắc tồn tại thực tế trong quan hệ của nhiều nhà nước hệ trọng đến việc dẫn độ tù túng. hiện thời, cũng có ý kiến pháp lý của không ít nhà nước khác cho rằng nên loại bỏ nguyên tắc có đi có lại trong Luật quốc gia như là điều kiện chẳng thể chấp nhân khi giải quyết các đề nghị dẫn độ tù hãm từ các nhà nước khác.

+ Nguyên tắc định danh kép:

Trong các văn bản pháp lý nhà nước cũng như quốc tế đều có sự ghi nhận nội dung của nguyên tắc định danh kép trong dẫn độ tù túng. Theo nguyên tắc này, cá nhân cần phải dẫn độ khi hành vi của họ được định danh là hành vi tù nhân theo luật quốc gia của cả hai nước (nước đề nghị và nước được đề nghị dẫn độ). Nói cách khác, dẫn độ phạm nhân chỉ được thực hiện nếu theo luật của hai nhà nước hữu quan đều khẳng định hành vi của cá nhân chủ nghĩa bị dẫn độ là hành vi tội phạm hình sự và mức hình phạt cần là hình thức tù giam, với hạn được xác định. kì hạn tù giam theo ý chí của các bên được thiết chế hoá trong luật nước mình hoặc được các bên thoả thuận và ghi trong điều ước quốc tế có liên quan.

Trong quá trình xem xét nguyên tắc định danh kép cũng cần quan hoài đến việc phân loại tội nhân trong quy định pháp luật của một số nhà nước khi có sự phân chia thành tù đọng nghiêm (trọng tội) và tội nhân ít nghiêm trọng (khinh tội). Việc phân loại như vậy sẽ làm cho nhiều trường hợp việc xác định đối tượng cần dẫn độ của nước được yêu cầu hợp tác gặp khó khăn, do trong thực tế, luật pháp của các nước khác nhau sẽ không có quan điểm thống nhất đối với khái niệm phân loại tù nêu trên.

+ Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình:

quốc gia được yêu cầu dẫn độ có quyền khước từ việc dẫn độ tù hãm nếu cá nhân chủ nghĩa phạm tội là công dân nước mình . Quy định này được ghi nhận trong hiến pháp hoặc đạo luật về quốc tịch của nhà nước. tuy thế, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ. Cụ thể, tại Hội nghị quốc tế lần thứ in về thống nhất hoá luật quốc tế đã đạt được thoả thuận tán đồng nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình cho nước khác không được vận dụng đối với các cá nhân thực hiên tù đọng quốc tế.

hao hao, trong pháp luật của một loạt quốc gia, như Áo, Anh, Israel, Ân Độ, Canada và Mỹ... cho phép khả năng dẫn độ công dân nước mình cho nước khác nhưng phải dựa trên nguyên tắc có đi có lại. Vấn đề sẽ trở thành phức tạp hơn khi cá nhân chủ nghĩa bị dẫn độ là người không có quốc tịch hoặc người có nhiều quốc tịch. Trong trường hợp dẫn độ công dân nước thứ ba, luật quốc tế không bắt buộc các nhà nước phải có nghĩa vụ dẫn độ. Vấn đề này hoàn toàn phụ thuộc vào pháp luật của nhà nước có liên can.

+ Nguyên tắc không dẫn độ tù đọng chính trị:

Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong hàng loạt các điều ước quốc tế đa phương và song phương về hỗ trợ pháp lý và trong pháp luật quốc gia của các nước. dù rằng cố sự nhất trí về quan điểm công nhận nguyên tắc này nhưng trong thực tế quốc tế không có sự hợp nhất về giải thích vấn đề thuộc tính chính trị. Theo nguyên tắc, việc xác định tính chất chính trị của tầy được thực hiện trong quá trình xét xử tại tòa án, và hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách của nhà nước nơi đang có người bị dẫn độ ập. thực tại dẫn độ phạm nhân đã biết đến các trường hợp khi cá nhân bị truy cứu bổn phận hình sự ở nước mình đã bỏ trốn ra nước ngoài và đề nghị được cư trú chính trị ở đó.

Bên cạnh những nguyên tắc chuyên biệt nêu trên của chế định pháp lý quốc tế về dẫn độ tội phạm, còn tổn tại và có hiệu lực các luật lệ được xác nhận chung của luật quốc tế về quá trình dẫn độ tội nhân. trước hết phải đề cập đến quy tắc chỉ dẫn độ đối với phạm nhân thực hiện được công nhận là cơ sở để tiến hành dẫn độ. Như vậy, nhà nước đề nghị dẫn độ phải có trách nhiệm không được tiến hành truy cứu bổn phận hình sự đối với các tù không phải là cơ sở pháp lý để thực hiện dẫn độ. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự không đúng với tầy bị dẫn độ là cơ sở để nhà nước dẫn độ thực hiện hành vi phản đối. Quy định này có ý nghĩa quan yếu, bảo đảm khắc phục được sự lạm dụng của các quốc gia đối với chế định dẫn độ nhằm mục đích riêng của mình. quốc gia dẫn độ có thể thoả thuận rằng họ chỉ đồng ý dẫn độ đốì với một nhóm loại tôi phạm xác định. Ví dụ, Công ước châu Âu năm 1957 về dẫn độ tội nhân đã quy định điều khoản như vậy.

Trong thực tại quan hệ quốc tế còn xuất hiên trường hợp cùng một lúc có nhiều nhà nước đề nghị dẫn độ tội phạm (thí dụ, phạm nhân được thực hành trên cương vực của nhiều quốc gia). Trong trường hợp như vậy, nhà nước được đề nghị có toàn quyền quyết định theo đánh giá của mình sẽ dẫn độ cho nhà nước nào trong số các quốc gia có yêu cầu. Trong quan hệ quốc tế về dẫn độ đã xuất hiên lệ luật “thẩm quyền ưu thế hơn”. Khái niệm thẩm quyền này được hiểu là nhà nước dẫn độ sẽ chuyển giao tù hãm cho quốc gia có “thẩm quyền ưu thế hơn” trong số các nước đề nghị dẫn độ tù túng. Như vậy, việc xác định nội dung “thẩm quyền ưu thế hơn” hoàn toàn do quốc gia dẫn độ tự quyết định. Trong thực tế, “thẩm quyền ưu thế hơn” sẽ thuộc về nhà nước nơi hành vi tội phạm nghiêm trọng nhất được thực hành hoặc quốc gia trước tiên gửi yêu cầu dẫn độ tôi phạm.

+ Các vấn đề pháp lý khác về dẫn độ tội phạm

Vấn đề trước nhất là vấn đề không dẫn độ tôi phạm, tức các trường hợp mà quốc gia có quyền từ khước dẫn độ. Trong vấn đề này, ngoài trường hợp đã nêu trên, luật quốc tế còn đưa ra các trường hợp không dẫn độ, cho phép quốc gia được đề nghị chối từ dẫn độ tù nhân cho quốc gia hữu quan nếu không có cơ sở để thực hành việc dẫn độ. thí dụ, hành vi của cá nhân chủ nghĩa người bị yêu cầu dẫn độ chỉ có hệ trọng đến nghĩa vụ dân sự và bổn phận hành chính, hết thời hiệu tố tụng...

Ví dụ về dẫn độ tù đọng

thí dụ: A (công dân Việt Nam) phạm tội giết người trên cương vực Việt Nam nhưng ẩn sang Lào để lẩn tránh bổn phận hình sự

Việt Nam và Lào đã ký kết hiệp nghị tương trợ tư pháp các vấn đề dân sự và hình sự thì theo điều 59 của hiệp nghị này (về bổn phận dẫn độ phạm nhân):

ăn nhập với những điều đã ghi trong Hiệp định này, Nước ký kết này sẽ dẫn độ công dân của Nước ký kết kia đang ở trên lãnh thổ của nước mình cho Nước ký kết kia để tiến hành truy cứu bổn phận hình sự hoặc để thi hành bản án, quyết định hình sự.

Và điều 60 về Điều kiện dẫn độ người phạm tội thì:

căn cứ vào các điều kiện của hiệp nghị này, hành vi phi pháp dẫn đến việc dẫn độ người phạm tội là hành vi phạm pháp mà theo pháp luật của các Nước ký kết có thể kết án tù từ một năm trở lên hoặc hình phạt nặng hơn.

Việc dẫn độ để thi hành bản án hình sự chỉ được thực hành khi người có hành vi phạm pháp bị kết án tù từ một năm trở lên hoặc hình phạt nặng hơn.

Vậy hành vi của A là tội giết người, thỏa mãn các điều kiện tại điều 59, 60 của Hiệp định thì khi Việt Nam có yêu cầu dẫn độ thì Lào sẽ dẫn độ A trở về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hy vọng qua bài viết trên các bạn đã rõ hơn về khái niệm dẫn độ cũng như các đối tượng ứng dụng và không ứng dụng luật dẫn độ. ngoại giả các bạn cũng có thể tham khảo thêm về lệnh tầm nã đỏ trong bài viết Interpol là gì? Lệnh truy tìm đỏ của Interpol là gì?.

No comments:

Post a Comment

Thời Tiết

Tỷ Giá

Bài đăng phổ biến